Rồi. Có muốn nghe chuyện cười nữa không? (Dạ muốn.) Muốn hả? (Dạ.) Sư Phụ có cả quyển truyện cười ở đây. Nói về những yếu điểm, Sư Phụ có một truyện cười khác cho quý vị. Có một vị linh mục kia đến gặp một nhà tu hành rất nổi tiếng, một vị giáo sĩ Do Thái, và hỏi ông ấy về tính khí của mình. Vị linh mục có địa vị thấp hơn hỏi, vì ông này có tánh rất nóng nảy. Ông nói: “Con phải làm gì với cái lưỡi của con đây? Mỗi khi con ở nơi đông người hoặc ở bên cạnh ai đó, con cứ cắt họ bằng cái lưỡi của con. Lưỡi con bén như dao cạo, và con không kiểm soát được. Con luôn chỉ trích người ta. Con thấy yếu điểm của họ, thấy khuyết điểm của họ, và ngay cả việc tốt họ làm, con cũng nhìn ra động cơ thấp kém nào đó, rồi con cắt họ nát bét. Con mất rất nhiều bạn bè, mất việc làm, mất lòng người, mất cả tín đồ, mất hết. Con phải làm gì với cái lưỡi của con?” Quý vị biết vị giáo sĩ trả lời sao không? Đoán thử xem. (Cắt nó đi.) Cắt nó đi? Quý vị dã man quá. Khủng khiếp. Vậy Sư Phụ phải cắt lưỡi của Sư Phụ trước. Rồi quý vị sẽ không còn truyện cười nào nữa.
Dù sao thì, vị giáo sĩ cao cấp người Do Thái khuyên ông ấy như thế này: “Khi chúng ta muốn sống với nhiều người, muốn sống hòa thuận và yên bình với người khác, thì chúng ta phải tròn, để có thể đối diện với từng người. Chúng ta không nên quá vuông vức. Nếu quá vuông, quá góc cạnh, thì không thể sống với người khác được”. Vị linh mục nói: “Ồ, cảm ơn Cha. Con biết rồi. Cảm ơn ạ. Con sẽ ráng hết sức”. Và ông rất khiêm tốn khẩn cầu vị giáo sĩ cao cấp ban phước. Nhưng vị giáo sĩ nói: “Ta đây còn không sống được với người ta, nên ta mới sống một mình”.
Phải, phải. Đôi khi Sư Phụ nói với quý vị, Sư Phụ thật sự “bái phục” quý vị. Sư Phụ nể phục quý vị, vì quý vị có thể sống với nhiều người. Ai cũng nói với Sư Phụ là để được khai ngộ, để làm tu sĩ, để sống một mình trên núi là rất khó. Nhưng Sư Phụ thấy điều đó còn dễ hơn cách quý vị sống. Quý vị sống với rất nhiều người: ông nội, bà nội, rồi có khi ông nội kế, bà nội kế, rồi cha, mẹ, rồi cha kế, mẹ kế, rồi anh, chị, em, anh em kế, chị em kế, rồi chị ruột, rồi cháu trai, cháu gái, rồi đầu gối của quý vị, rồi con cái của quý vị, đủ cả. Đôi khi quý vị không sống chung với nhiều người như vậy, nhưng quý vị thường xuyên tiếp xúc, tiệc tùng, gặp gỡ này kia. Sư Phụ không hiểu sao quý vị làm được. Quả thật kỳ diệu khi quý vị làm được nhự vậy. Vị giáo sĩ nói rằng những người sống trong xã hội, sống với người khác, là người mạnh mẽ. Ông sống xa người ta không phải vì ông mạnh, mà vì ông yếu – ông không thể hòa hợp với họ, rồi cắt họ bằng cái lưỡi của mình. Cho nên ai có cái lưỡi bén thì nên suy nghĩ; đến Tây Hồ và giấu cái lưỡi của mình đi.
Thật ra, sống với người khác rất khó. Nhưng nhiều người làm được. Cả thế giới này người ta vẫn làm được đó thôi, đúng không? Quý vị cũng làm được? Quý vị thấy ổn ha? Thật đáng kinh ngạc. Thật phi thường. Có thể hòa thuận được với nhau. (Thỉnh thoảng.) Cái gì? (Thỉnh thoảng chúng con cũng có cái lưỡi bén.) Thỉnh thoảng. Nhưng thỉnh thoảng thì được. Thỉnh thoảng thì không sao. Chỉ sợ không phải thỉnh thoảng, mà lúc nào cũng bén, thì mới rắc rối. Sư Phụ luôn ngạc nhiên khi thấy người ta có thể sống với nhau lâu như vậy, hoặc thương nhau nhiều đến thế. Ngay cả như Tổng thống Nixon, khi vợ ông mất, Sư Phụ nghe là ông gần như chết theo. Thật ra, sau đó thì cũng ông mất. Ông bị tổn thương tình cảm rất nặng vì sự ra đi của vợ mình. Họ đã già rồi, và ông từng là tổng thống, một người cứng rắn. Ít nhất là theo những gì chúng ta biết.
Sư Phụ tự hỏi làm sao người ta có thể gắn bó với nhau sâu đậm đến mức một phần của họ như mất đi khi người kia không còn nữa. Thật là điều tuyệt vời. Hay là không? (Dạ không.) Không hả? Không? Tại sao? Nếu quý vị có thể thương một người như vậy thì cũng tốt mà. Sao? (Con nghĩ là tốt.) Anh nghĩ là tốt. Đúng rồi, có người như vậy. Họ cùng nhau già đi, họ rất chung thủy với nhau. Đôi khi điều đó cũng làm Sư Phụ cảm động. Sư Phụ cảm thấy rất cảm động khi thấy người đời mà vẫn chung thủy với nhau như thế.
Rồi, có muốn nghe chuyện cười nữa không? (Dạ muốn.) (Tại sao không?) “Sách Trí Huệ” của Sư Phụ đây. Được rồi. Người tu hành mình có nhiều quan niệm sai lầm lắm. Ví dụ, nhiều người nghĩ rằng họ nên đi theo con đường của Đức Phật, xả bỏ hết mọi thứ, ra ngoài xin ăn để sống, và sống một cuộc đời rất đạm bạc, đơn sơ, giống như (người-thân-)gấu, hái dâu rừng và các thứ tương tự mà ăn. Và có lẽ như vậy sẽ giúp mình trở nên rất thánh thiện hay trở nên thông thái. Nhưng kiểu sống đó không phải là kiểu sống giúp chúng ta có trí huệ hay đạt được quả vị Phật. Quả vị Phật vốn đã có sẵn ở đó. Khi Đức Phật thành Phật, không phải vì Ngài ăn dâu rừng và sống như (người-thân-)gấu, với nhu cầu tối thiểu. Quý vị có xem phim “Cậu Bé Rừng Xanh” – với nhu cầu tối thiểu chưa, ăn chuối, ăn dâu rừng, và mấy thứ như vậy. Những thứ đó không đem lại sự khai ngộ. Khai ngộ sẽ tự nhiên đến khi chúng ta tìm kiếm nó. Khai ngộ đến khi thời điểm chín muồi. Nhưng không phải từ việc hành xác hay bất kỳ kiểu khổ hạnh nào.
Có một truyện cười trong Thiền tông. Không hẳn là truyện cười, mà là một câu chuyện hay. À, thật ra là trong Phái Sufi. Phái Sufi là một nhánh trong Hồi giáo, có lẽ tự do hơn, khai ngộ hơn. Có lẽ họ có truyền thừa từ các bậc Minh Sư. Truyện kể rằng: Có một người đi lang thang vào rừng sâu. Một ngày nọ… không, có lẽ ông chỉ đi tham quan hoặc làm ăn gì đó. Rồi một ngày, ông tình cờ thấy một (người-thân-)cáo đã mất hết chân. Ông tự hỏi: “Làm sao (người-thân-)cáo này có thể sống trong rừng khi không còn chân nữa?” Thế là ông quan sát, quan sát mãi. Rồi ông thấy một con cọp mang con mồi về ăn. Sau đó bất cứ gì còn sót lại, (người-thân-)cáo liền ăn những thứ đó. Đó là cách nó sống. “À!” Giờ thì ông hiểu rồi. Đó là cách nó sống sót. Ngày hôm sau, Thượng Đế lại nuôi (người-thân-)cáo thông qua con cọp nữa.
Thế là người đàn ông nghĩ rằng giờ đây mình đã giác ngộ. Ông nói: “À, chúng ta phải nương vào Thượng Đế. Chúng ta phải tin vào Thượng Đế, và Ngài sẽ cung cấp cho chúng ta mọi thứ”. Thế là ông bỏ hết việc làm ăn, quên vợ con, và thậm chí không đến Trung Tâm Tây Hồ để cộng tu nữa. Ông chỉ ngồi trong rừng và cố gắng phó thác cho Thượng Đế, để Thượng Đế mang đồ ăn thức uống đến cho mình. Ông ngồi đó, thiền về Thượng Đế. Ông thậm chí còn không niệm Năm Hồng Danh, cũng không niệm Nam Mô Vô Thượng Sư, Thanh Hải Vô Thượng Sư SUMA Tử nữa. Ông nói: “Tại sao? Mình chỉ tin Thượng Đế thôi. Tại sao mình phải niệm tên ai? Mình tin Thượng Đế. Mình thương Thượng Đế. Mình tin nơi Ngài. Mình kính sợ Ngài. Như vậy là đủ cho mình rồi. Mình phó thác mọi việc cho Thượng Đế”. Thế là ông ngồi đó, chờ bơ thuần chay, bánh thuần chay, bánh mì, phô-mai thuần chay, đậu hủ đến với mình. Ngày thứ nhất, chẳng có gì đến. Ông tiếp tục ngồi đó. Ông nói Thượng Đế đang thử thách đức tin của mình. Ông lại ngồi đó thêm ngày nữa. Ngày thứ hai, không có đậu hủ xuất hiện, không có cây bắp cải nào từ đất mọc lên trước mũi ông. Không có gì xảy ra.
Ông nghĩ: “À, Thượng Đế chắc đang thử thách lòng can đảm và niềm tin của mình. Dĩ nhiên, mình sẽ cho Ngài thấy. Mình sẽ cho Ngài thấy đức tin của mình, khả năng phó thác của mình, và niềm tin không lay chuyển của mình vào Thượng Đế”. Thế là ông ngồi tiếp và tiếp tục chờ. Ngày thứ ba đến, vẫn không có gì xảy ra. Không có bơ thuần chay, không có bánh mì, phô-mai thuần chay, không đậu hủ, bắp cải, cà rốt, cũng không có giọt nước mưa nào. Lúc đó, ông chịu hết nổi rồi. Thử thách đến từ cổ họng, từ bao tử, từ tay chân, không nhất thiết từ Thượng Đế, mà từ khắp cơ thể ông. Tất cả phụ tùng trên cơ thể bắt đầu không tha cho ông. Ông khổ sở và ráng nghĩ xem chuyện gì đã xảy ra.
Ông cầu nguyện Thượng Đế: “Xin đừng thử con nữa. Con thật sự tin Ngài. Con thật sự phó thác cho Ngài. Niềm tin của con nơi Ngài không lay chuyển. Nó không bao giờ chết”. Rồi có một tiếng nói từ trên Trời… hoặc có lẽ từ bao tử ông, Sư Phụ không biết. Tiếng nói bảo: “Ôi, đồ ngu… tại sao ngươi lại học cách của (người-thân-)cáo tàn tật? Hãy tỉnh dậy, đứng lên, và sống theo cách của (người-thân-)cọp. Đừng học theo cách của (người-thân-)cáo tàn tật”. Quý vị hiểu chưa? (Dạ hiểu.) Hiểu rồi. Tốt.
Photo Caption: “Phong Cảnh TỰA VƯỜN ĐỊA ĐÀNG!”











